ThS. Trần Đức Thọ – Phó Viện trưởng Viện Cơ khí Năng lượng và Mỏ – Vinacomin.
Tóm tắt
Trong bối cảnh khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo (KHCN&ĐMST) và chuyển đổi số (CĐS) đang trở thành động lực chủ yếu của phát triển kinh tế – xã hội, các tổ chức nghiên cứu ứng dụng trong lĩnh vực cơ khí, năng lượng và mỏ đứng trước yêu cầu phải đổi mới mạnh mẽ về tư duy, phương thức quản lý, mô hình nghiên cứu và khả năng thương mại hóa sản phẩm. Viện Cơ khí Năng lượng và Mỏ – Vinacomin là đơn vị có truyền thống trong nghiên cứu, thiết kế, chế tạo, sửa chữa thiết bị phục vụ ngành Than – Khoáng sản, tuy nhiên, trước sức ép cạnh tranh, yêu cầu cơ giới hóa, tự động hóa, CĐS và phát triển mỏ thông minh, việc cần chuyển mạnh từ mô hình sản xuất, sửa chữa truyền thống sang mô hình phát triển dựa trên KHCN&ĐMST và tài sản trí tuệ. Bài viết phân tích thực trạng hoạt động KHCN&ĐMST tại Viện; nhận diện các kết quả đạt được, hạn chế và thách thức; từ đó đề xuất định hướng, nhiệm vụ trọng tâm và giải pháp phát triển giai đoạn 2025-2030, tầm nhìn đến năm 2045.
Từ khóa: khoa học và công nghệ; đổi mới sáng tạo; chuyển đổi số; cơ khí mỏ; Vinacomin; mỏ thông minh; thương mại hóa sản phẩm.
1. Đặt vấn đề
KHCN&ĐMST ngày càng khẳng định vai trò là động lực then chốt của tăng trưởng, nâng cao năng suất lao động, chất lượng sản phẩm và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Đối với ngành công nghiệp khai khoáng, đặc biệt là ngành Than, yêu cầu đổi mới công nghệ càng trở nên cấp thiết trong bối cảnh điều kiện khai thác ngày càng khó khăn, chi phí sản xuất tăng, yêu cầu an toàn lao động và bảo vệ môi trường ngày càng cao.
Viện Cơ khí Năng lượng và Mỏ – Vinacomin là đơn vị nghiên cứu, tư vấn, thiết kế, chế tạo và cung cấp các giải pháp kỹ thuật phục vụ ngành than, khoáng sản, năng lượng và các lĩnh vực công nghiệp có liên quan. Trong nhiều năm qua, Viện đã thực hiện nhiều đề tài, dự án KH&CN cấp Quốc gia, cấp Bộ và cấp Tập đoàn, từ nguồn lực này và các nguồn lực cá nhân đã hình thành một số sản phẩm cơ khí, thiết bị mỏ, thiết bị vận tải, thiết bị năng lượng và giải pháp kỹ thuật được ứng dụng trong thực tiễn sản xuất.
Tuy nhiên, trong bối cảnh mới ngày càng cạnh tranh gay gắt với sản phẩm giá rẻ và mất bản quyền chúng ta sẽ khó tạo ra giá trị gia tăng bền vững. Sản xuất có thể giúp đơn vị duy trì hoạt động trước mắt, nhưng nghiên cứu KHCN&ĐMST và làm chủ công nghệ mới là nền tảng để phát triển dài hạn, nâng cấp chuỗi giá trị và khẳng định vị thế của Viện trong hệ sinh thái của Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam.
Vì vậy, phát triển KHCN&ĐMST không chỉ là nhiệm vụ chuyên môn, mà còn là yêu cầu chiến lược, quyết định năng lực cạnh tranh, khả năng tự chủ công nghệ và tương lai phát triển của Viện trong kỷ nguyên mới.
2. Cơ sở và yêu cầu phát triển KHCN&ĐMST
Từ Nghị quyết 57- NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển KHCN&ĐMST và CĐS quốc gia, Nhà nước, Bộ Công Thương và Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam đã ban hành nhiều chủ trương, định hướng quan trọng về phát triển KHCN&ĐMST và CĐS. Các định hướng này đều nhấn mạnh vai trò trung tâm của doanh nghiệp trong ĐMST, yêu cầu đẩy mạnh nghiên cứu ứng dụng, phát triển công nghệ chiến lược, nâng cao năng lực số, tăng tỷ trọng kinh tế số và thúc đẩy nghiên cứu, thương mại hóa kết quả nghiên cứu.
Đối với Viện Cơ khí Năng lượng và Mỏ – Vinacomin, các yêu cầu này đặt ra một số nhiệm vụ. Thứ nhất, chúng ta xác định KHCN&ĐMST là trụ cột phát triển, không chỉ là hoạt động bổ trợ cho sản xuất kinh doanh; Thứ hai, các nhiệm vụ nghiên cứu phải gắn chặt với nhu cầu thực tế của Tập đoàn, các mỏ than, nhà máy tuyển, đơn vị cơ khí và các lĩnh vực năng lượng; Thứ ba, sản phẩm nghiên cứu phải hướng tới ứng dụng, thương mại hóa, bảo hộ sở hữu trí tuệ và tạo doanh thu. Thứ tư, chủ động tiếp cận các xu hướng công nghệ mới như trí tuệ nhân tạo, Internet vạn vật, dữ liệu lớn, bản sao số, tự động hóa, robot, công nghệ in 3D, tiết kiệm năng lượng và CĐS trong quản trị.
Mục tiêu đến năm 2030 là nâng cao năng lực ĐMST của toàn Viện, tăng tỷ lệ cán bộ, nhân viên tham gia hoạt động ĐMST; thúc đẩy ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI), Internet vạn vật (IoT) và CĐS trong nghiệp vụ, sản xuất; gia tăng doanh thu từ KHCN&ĐMST; đồng thời bảo đảm các giải pháp nghiên cứu đáp ứng yêu cầu an toàn, tiết kiệm năng lượng, giảm phát thải và phát triển bền vững.
3. Thực trạng hoạt động KHCN&ĐMST tại Viện
3.1. Những kết quả đạt được
Trong quá trình phát triển, Viện đã hình thành đội ngũ cán bộ khoa học, kỹ sư và chuyên gia kỹ thuật có kinh nghiệm, am hiểu lĩnh vực cơ khí mỏ, năng lượng, thiết bị vận tải, thiết bị khai thác, tự động hóa và sửa chữa cơ điện mỏ. Đây là nguồn lực quan trọng, tạo nền tảng cho các hoạt động nghiên cứu, thiết kế, chế tạo và chuyển giao công nghệ.
Viện đã thực hiện nhiều đề tài, nhiệm vụ KH&CN cấp Bộ, cấp ngành, cấp Tập đoàn và cấp cơ sở. Một số sản phẩm từ nghiên cứu đã được ứng dụng trong thực tiễn sản xuất chiếm ~50%, các nhiệm vụ góp phần mang lại doanh thu chiếm 20% số nhiệm vụ, đã nâng cao vị thế và khẳng định vai trò của Viện trong hệ thống Vinacomin. Bên cạnh đó, Viện có cơ sở vật chất, phòng thí nghiệm và hệ thống xưởng sản xuất phục vụ nghiên cứu, thử nghiệm, chế tạo và hoàn thiện sản phẩm.
Một lợi thế quan trọng khác là Viện có mối liên kết trực tiếp với các doanh nghiệp trong hệ sinh thái Vinacomin. Đây là điều kiện thuận lợi để nhận diện nhu cầu công nghệ, đặt hàng nghiên cứu, thử nghiệm sản phẩm và triển khai các giải pháp kỹ thuật trong thực tế sản xuất. Nếu được khai thác tốt, mối liên kết này sẽ giúp rút ngắn khoảng cách giữa nghiên cứu và ứng dụng, nâng cao tỷ lệ thương mại hóa kết quả KH&CN.
3.2. Những tồn tại, hạn chế
Bên cạnh các kết quả đạt được, hoạt động KHCN&ĐMST của Viện vẫn còn một số hạn chế cần được nhìn nhận thẳng thắn.
Thứ nhất, số lượng đề tài KH&CN được ứng dụng còn chưa tương xứng với tiềm năng đội ngũ và nhu cầu thực tiễn sản xuất. Một đơn vị nghiên cứu có lực lượng 14 tiến sỹ, 70 kỹ sư chuyên ngành kỹ thuật, nhưng số lượng sản phẩm KH&CN có khả năng mang lại doanh thu còn hạn chế.
Thứ hai, hoạt động nghiên cứu chưa phân bố đồng đều giữa các trung tâm, đơn vị chuyên môn. Một số đơn vị có nhiều sản phẩm và đề tài, trong khi một số đơn vị khác chưa thực sự phát huy hết tiềm năng nghiên cứu, sáng kiến và cải tiến kỹ thuật.
Thứ ba, tỷ lệ biến kết quả nghiên cứu thành sản phẩm trên thị trường đạt ~20%, tuy nhiên với số lượng các sản phẩm đa số là đơn chiếc. Nhiều đề tài sau khi nghiệm thu mới ở giai đoạn kết thúc nghiên cứu thử nghiệm đạt 26%, chưa tiếp tục được hoàn thiện thành sản phẩm hàng hóa, chưa tạo ra thị trường ổn định hoặc doanh thu lâu dài.
Thứ tư, nhiều nhiệm vụ, thiết bị hoặc giải pháp kỹ thuật phát sinh từ thực tiễn sản xuất nếu không được chuẩn hóa thành nhiệm vụ nghiên cứu sẽ khó tạo lập tài sản trí tuệ, khó nhân rộng và khó nâng cấp thành sản phẩm chiến lược.
Thứ năm, công tác bảo hộ sở hữu trí tuệ nhiều năm chưa được quan tâm. Việc chưa đăng ký sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp hoặc nhãn hiệu đã dẫn đến bị sao chép, chiếm hữu mà Viện không thể kiểm soát được. Nhiều sản phẩm đã bị cạnh tranh không sòng phẳng trên thị trường.
Thứ sáu, cơ chế biến kết quả nghiên cứu thành và tiêu thụ sản phẩm nghiên cứu trong nước còn khó khăn. Điều này phần nào làm giảm động lực của cán bộ nghiên cứu, đặc biệt đối với các đề tài có rủi ro kỹ thuật cao, cần vốn đối ứng lớn hoặc chưa thể thương mại hóa ngay sau khi hoàn thành.
4. Vai trò của KHCN&ĐMST trong chuỗi giá trị của Viện
Trong quá khứ cho thấy lợi thế dài hạn và lợi thế cạnh tranh của Viện đều xuất phát từ thành công trong nghiên cứu. Các hoạt động sản xuất thông thường dễ bị cạnh tranh bởi doanh nghiệp nhập khẩu, hoặc các doanh nghiệp có địa điểm thuận lợi hơn hoặc khả năng đầu tư thiết bị nhanh hơn. Khi đó, Viện có nguy cơ mất dần lợi thế, tụt hậu về công nghệ và không phát huy được năng lực chất xám vốn là điểm mạnh cốt lõi của một đơn vị nghiên cứu.
KHCN&ĐMST là chìa khóa để Viện không chỉ nâng cấp mà là đột phá trong chuỗi giá trị. Song song với tối ưu hóa giá trị sản xuất, chúng ta cần dịch chuyển sang làm chủ thiết kế mới, làm chủ công nghệ mới và phát triển sản phẩm có hàm lượng tri thức cao. Khi sản phẩm mang tính là tài sản trí tuệ, có khả năng ứng dụng rộng rãi trong ngành than và khoáng sản, Viện sẽ tạo ra “đại dương xanh” cho chính mình, giảm phụ thuộc vào cạnh tranh giá thấp.
Phát triển KH&CN còn mở ra các nguồn lực tài chính mới thông qua đề tài nghiên cứu, dự án sản xuất thử nghiệm, hợp đồng chuyển giao công nghệ, thương mại hóa sản phẩm, dịch vụ kỹ thuật chuyên sâu và hợp tác với doanh nghiệp. Quan trọng hơn, KH&CN giúp Viện khẳng định vai trò là đơn vị nghiên cứu ứng dụng, có trách nhiệm với thế hệ tương lai để phát triển của ngành cơ khí mỏ và ngành than.
5. Định hướng phát triển KHCN&ĐMST giai đoạn 2025-2030
5.1. Xây dựng chiến lược KHCN&ĐMST của Viện đến năm 2030
Việc xây dựng chiến lược KHCN&ĐMST đến năm 2030, sẽ xác định rõ 3-5 lĩnh vực ưu tiên, lộ trình phát triển, sản phẩm trọng điểm, nguồn lực thực hiện và cơ chế đánh giá kết quả. Chiến lược này sẽ gắn với định hướng phát triển của Vinacomin, nhu cầu của các mỏ than, nhà máy tuyển, đơn vị cơ khí, đơn vị năng lượng và xu thế công nghệ của thế giới.
Các lĩnh vực ưu tiên bao gồm: cơ giới hóa khai thác; thiết bị vận tải mỏ; tự động hóa và điều khiển; IoT và mỏ thông minh; thiết bị tiết kiệm năng lượng; công nghệ môi trường; vật liệu, chế tạo cơ khí chính xác; phần mềm quản lý kỹ thuật và văn phòng thông minh.
5.2. Thành lập bộ phận ĐMST và chuyển giao công nghệ
Để tăng hiệu quả thương mại hóa, trong tương lai cần xác định có bộ phận chuyên trách về ĐMST và chuyển giao công nghệ. Bộ phận này ngoài đảm nhận các có vai trò hỗ trợ các nhiệm vụ thực thi nhiệm vụ, vừa là làm cầu nối giữa nghiên cứu và sản xuất; quản lý sở hữu trí tuệ; xúc tiến thương mại hóa; kết nối với trường đại học, viện nghiên cứu, doanh nghiệp công nghệ và đơn vị sử dụng trong Vinacomin.
Bộ phận này cũng cần hỗ trợ các chủ nhiệm đề tài trong việc hoàn thiện hồ sơ công nghệ, tiêu chuẩn kỹ thuật, phương án thử nghiệm, phương án thương mại hóa, đánh giá thị trường và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ. Đây là khâu rất quan trọng để kết quả nghiên cứu không dừng lại ở nghiệm thu mà có thể trở thành sản phẩm, dịch vụ hoặc giải pháp có giá trị kinh tế.
5.3. Ứng dụng AI, IoT, tự động hóa và bản sao số (Digital twin)
Một trong những hướng trọng tâm trong giai đoạn tới là ứng dụng AI, IoT vào cơ khí mỏ. Các công nghệ như mạng cảm biến, giám sát thời gian thực, bảo trì dự đoán, bản sao số, phân tích dữ liệu lớn và trung tâm điều khiển thông minh có thể tạo ra bước chuyển căn bản trong quản lý thiết bị, vận hành mỏ và bảo đảm an toàn. Tập trung nghiên cứu các hệ thống giám sát thiết bị cơ điện mỏ, giám sát vận tải, giám sát băng tải, giám sát toa xe, nhận dạng hình ảnh bằng camera, cảnh báo sớm nguy cơ mất an toàn và phân tích dữ liệu vận hành. Đây là hướng nghiên cứu phù hợp với xu thế CĐS và có nhu cầu ứng dụng lớn trong các đơn vị khai thác than.
5.4. Phát triển các nhóm sản phẩm trọng tâm
Ưu tiên phát triển các nhóm sản phẩm trọng tâm giai đoạn 2025-2030 phù hợp với công nghệ của Vinacomin.
Nhóm thứ nhất là thiết bị phục vụ cơ giới hóa khai thác, gồm máy khoan thông minh, máy khoan neo, thiết bị đào lò, máy khấu và các thiết bị hỗ trợ khai thác hầm lò.
Nhóm thứ hai là thiết bị vận tải mỏ, gồm hệ thống vận tải người góc dốc lớn, vận tải người bằng monoray, vận tải bằng toa xe, tời cáp treo đường lò cong 3D, thiết bị dùng pin năng lượng xanh LFP và hệ thống lưu trữ.
Nhóm thứ ba là thiết bị tiết kiệm năng lượng và chuyển đổi xanh, gồm máy phát điện thu hồi nhiệt, lò đốt hiệu suất cao, dây chuyền chế tạo viên nén, giải pháp tiết kiệm năng lượng trong công nghiệp và các công nghệ biomass, biogas.
Nhóm thứ tư là phát triển thiết bị và công nghệ cơ khí để gia công chế tạo quạt gió mỏ cỡ lớn và cục bộ, tời trục mỏ, các thiết bị chế tạo CNC, laser, các công nghệ in 3D bằng nhựa và kim loại.
Nhóm thứ năm là đẩy mạnh CĐS tại khu vực quản lý, đó là phát triển các phần mềm văn phòng thông minh, gồm phần mềm quản lý hợp đồng kinh tế, quản lý KH&CN, quản lý tài sản… tìm kiếm dữ liệu, thống kê dữ liệu để chuẩn hóa quy trình nghiệp vụ.
6. Giải pháp phát triển KHCN&ĐMST
6.1. Đổi mới tư duy quản lý KH&CN
Trước hết, cần xác định KH&CN không phải là nhiệm vụ phụ, mà là nhiệm vụ trung tâm để nâng cao năng lực cạnh tranh của Viện. Mỗi nhiệm vụ sản xuất có hàm lượng kỹ thuật cao cần được xem xét khả năng chuẩn hóa thành nhiệm vụ nghiên cứu, sáng kiến hoặc sản phẩm KH&CN. Mỗi trung tâm, phòng ban cần có chỉ tiêu cụ thể về sáng kiến, đề tài, sản phẩm ứng dụng và hoạt động ĐMST hằng năm.
Việc đánh giá kết quả KH&CN cần chuyển từ tư duy “làm xong đề tài” sang tư duy “tạo ra sản phẩm, tạo ra tài sản trí tuệ, tạo ra doanh thu và giá trị lâu dài”. Đây là thay đổi quan trọng để nâng cao hiệu quả thực chất của hoạt động nghiên cứu.
6.2. Xây dựng cơ chế khuyến khích sáng kiến và nghiên cứu nội bộ
Một cơ chế tốt để khuyến khích sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, nghiên cứu nội bộ và phát triển sản phẩm mới đến từ hỗ trợ kinh phí thiết kế, thử nghiệm, cơ chế thưởng theo giá trị làm lợi, theo sản phẩm thương mại hóa là động lực không nhỏ góp phần thành công trong công cuộc KHCN và CĐS tại Viện.
Cán bộ khoa học, kỹ sư và người lao động được đứng trong môi trường để đề xuất ý tưởng, thử nghiệm giải pháp, chia sẻ kinh nghiệm và được bảo vệ quyền lợi khi sáng kiến được ứng dụng. ĐMST chỉ có thể phát triển bền vững khi người lao động thấy rõ lợi ích, trách nhiệm và niềm tự hào trong quá trình tham gia.
6.3. Đẩy mạnh công tác bảo hộ sở hữu trí tuệ
Mọi sản phẩm có tính mới, tính sáng tạo, khả năng ứng dụng hoặc giá trị thương mại cần được rà soát để đăng ký bảo hộ sở hữu trí tuệ. Viện cần xây dựng quy trình nhận diện, đánh giá, đăng ký và quản lý tài sản trí tuệ đối với sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu, phần mềm và bí quyết công nghệ.
Bảo hộ sở hữu trí tuệ không chỉ giúp bảo vệ quyền lợi của Viện mà còn là cơ sở để thương mại hóa, chuyển giao công nghệ, hợp tác đầu tư và nâng cao giá trị thương hiệu. Trong bối cảnh cạnh tranh hiện nay, tài sản trí tuệ không những là thước đo quan trọng của năng lực KH&CN của cá nhân và của Viện mà còn được xác định được giá trị vốn góp đầu tư.
6.4. Đẩy mạnh hợp tác với doanh nghiệp, trường đại học và viện nghiên cứu
Để gắn chặt với nhu cầu thực tiễn của các doanh nghiệp trong và ngoài Vinacomin, chúng ta cần tăng cường cơ chế đặt hàng nghiên cứu từ các mỏ, nhà máy tuyển, đơn vị cơ khí, đơn vị điện, năng lượng và môi trường. Song song cần mở rộng hợp tác với các trường đại học, viện nghiên cứu, doanh nghiệp công nghệ trong các lĩnh vực AI, IoT, tự động hóa, vật liệu mới, năng lượng tái tạo và chuyển đổi số.
Mô hình hợp tác hiệu quả cần dựa trên nguyên tắc cùng xác định bài toán thực tế, cùng tham gia nghiên cứu, cùng thử nghiệm, cùng đánh giá và cùng chia sẻ lợi ích từ kết quả ứng dụng.
6.5. Phát triển nguồn nhân lực KH&CN chất lượng cao
Con người là yếu tố quyết định thành công của KHCN&ĐMST. Việc đào tạo chuyên sâu cho đội ngũ cán bộ khoa học, kỹ sư và chuyên gia kỹ thuật trong các lĩnh vực thiết kế, mô phỏng, tính toán kết cấu, tự động hóa, lập trình điều khiển, trí tuệ nhân tạo, phân tích dữ liệu, Python, Matlab, Ansys, SolidWorks, Inventor và các phần mềm chuyên ngành khác.
Bên cạnh đào tạo chuyên môn, cần xây dựng văn hóa học tập liên tục, trong đó mỗi cán bộ, kỹ sư chủ động cập nhật công nghệ mới, khai thác hiệu quả các công cụ AI, phần mềm kỹ thuật và nền tảng số phục vụ công việc hằng ngày. Đây là điều kiện quan trọng để nâng cao năng suất lao động và tránh nguy cơ tụt hậu trong chuyển đổi số.
7. Bàn luận
Phát triển KHCN&ĐMST tại Viện Cơ khí Năng lượng và Mỏ – Vinacomin không chỉ là vấn đề kỹ thuật mà còn là vấn đề chiến lược, tổ chức và văn hóa. Lợi thế về đội ngũ, kinh nghiệm, cơ sở vật chất và mối liên kết với hệ thống Vinacomin, tuy nhiên, để biến lợi thế đó thành năng lực cạnh tranh bền vững, cần có cơ chế tổ chức phù hợp, định hướng nghiên cứu rõ ràng, sản phẩm trọng tâm, thị trường ứng dụng và chính sách khuyến khích đủ mạnh.
Một thách thức lớn hiện nay là khoảng cách giữa nghiên cứu và thương mại hóa. Nếu không có cơ chế thử nghiệm, bảo hộ sản phẩm nội bộ, hỗ trợ thương mại hóa và ưu tiên ứng dụng trong hệ thống Vinacomin, nhiều kết quả nghiên cứu có thể chỉ dừng lại ở nghiệm thu mà không tạo ra giá trị thực tế. Vì vậy, chiến lược KH&CN của cần đặt trọng tâm vào sản phẩm, thị trường và tài sản trí tuệ.
Bên cạnh đó, CĐS và AI mở ra cơ hội mới cho Viện trong việc nâng cao năng suất lao động, chuẩn hóa dữ liệu, quản lý thiết bị, tối ưu hóa sản xuất và phát triển các sản phẩm công nghệ mới. Khi chúng ta tận dụng tốt thời cơ, Viện có thể chuyển mình từ đơn vị nghiên cứu, chế tạo truyền thống thành đơn vị công nghệ có năng lực cung cấp giải pháp tổng thể cho ngành mỏ và năng lượng.
8. Kết luận
Trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gay gắt, yêu cầu cơ giới hóa, tự động hóa, CĐS và phát triển mỏ thông minh ngày càng cao, ngay từ bây giờ chúng ta cần nhận thức đúng để thay đổi tư duy truyền thống sang tư duy đột phá sáng tạo.
Để thực hiện thành công trong công cuộc đổi mới, chiến lược KHCN&ĐMST đến năm 2030 cần được xây dựng trên nguồn trí tuệ tổng hợp, phát triển các nhóm sản phẩm trọng tâm; đẩy mạnh ứng dụng AI, IoT, tự động hóa, bản sao số và dữ liệu lớn; xây dựng cơ chế khuyến khích sáng kiến; bảo hộ sở hữu trí tuệ; phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và tăng cường hợp tác với doanh nghiệp, trường đại học, viện nghiên cứu.
Có thể khẳng định rằng, KH&CN là nền tảng giúp Viện phát triển vững chắc trong tương lai. Khi mỗi nhà khoa học, kỹ sư và người lao động cùng chủ động đổi mới, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm và quyết liệt hành động, Viện Cơ khí Năng lượng và Mỏ – Vinacomin hoàn toàn trở thành đơn vị tiên phong trong nghiên cứu, ứng dụng và chuyển giao công nghệ phục vụ ngành công nghiệp khai khoáng hiện đại, an toàn, xanh và bền vững và các ngành kinh tế khác.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
- Bộ Chính trị, Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
- Chính phủ, Nghị quyết số 03-NQ/CP về Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW.
- Quốc hội, Luật Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo.
- Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam, các chương trình khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo, cơ giới hóa, tự động hóa và chuyển đổi số.
- Viện Cơ khí Năng lượng và Mỏ – Vinacomin, tài liệu định hướng phát triển khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo giai đoạn 2025-2030.



